Lưu trữ của chuyên mục 'Uncategorized'

26
Tháng 2
12

Một ngày ở Nursing Home

Chia sẽ cùng tất cả các bạn một bài viết hay

Một Ngày ở Nursing Home

Sau ba tháng du lịch ở Mỹ về, những người quen hỏi tôi điều gì làm tôi tâm đắc nhất. Không chút do dự hay suy nghỉ, tôi trả lời: đó là cái Nursing Home.

Họ ngạc nhiên khi thấy tôi không đề cập đến những địa danh nổi tiếng: như Las vegas, Hollywood, Disney-land, những tòa nhà chọc trời cao nhất thế giới hoặc những cái Mall rộng lớn đi cả ngày chưa hết, những viện bảo tàng, những đại lộ thênh thang, chồng chéo lên nhau như những sợi mì….

Tôi đã hưởng một chuỗi ngày dài thật tuyệt vời,với biết bao điều mới lạ, hiện đại, tối tân mà từ trước đến giờ tôi chưa hình dung hay tưởng tượng ra nỗi.

Thế mà khi trở về Việt Nam, tâm trí tôi chỉ còn lắng đọng một điều làm tôi ưu tu, trăn trở, ray rức: cái Nursing Home mà mẹ chồng tôi đang sống.

Chặng cuối cùng của chuyến du lịch, chúng tôi đã ở Los Angeles mười lăm ngày để thăm viếng mẹ chồng. Hằng ngày, chúng tôi phải chuyển hai chuyến xe bus, GardenGrove, Westminster, Bolsa và bao nhiêu đại lộ nữa mà tôi không nhớ hết tên, đưa chúng tôi gần trạm cuối cùng của lộ trình.

Chúng tôi phải đi bộ khoảng năm trăm mét để đến khu dưỡng lão của một tổ chức tư nhân. Đó là một khoảng đất rộng, nằm khuất sau đại lộ Hungtington hai con đường, cách bờ biển Hungtington chưa tới hai cây số. Một nơi yên tĩnh, vắng vẻ, với hai hàng cây sồi đưa vào cái ngõ cụt.

Gồm ba dãy nhà trệt, ghép thành hình chữ U, nó êm dịu với những cánh cửa sơn màu xanh da trời, nổi bật màu sơn trắng của những bức tường, với những khung kính to trong suốt, lịch sự và trang nhã, bằng những tấm màn voan trắng che rủ. Những khóm hoa hồng, cẩm tú cầu được trồng một cách mỹ thuật trước hàng hiên, dưới cửa sổ, tạo cảm giác vui tươi, hưng phấn khi ngồi trên bộ bàn ghế để phơi nắng hoặc hóng mát dưới tàng cây.

Khi vợ chồng tôi đến nơi, kim đồng hồ của phòng trực chỉ 8 giờ 30 phút, bác sỉ và y tá đang đi từng phòng kiểm tra sức khỏe cho các cụ già. Mẹ chồng tôi tươm tất, sạch sẽ trong bộ quần áo mới thay, nét mặt tươi tỉnh. Họ đã làm vệ sinh cá nhân cho bà từ sáng sớm, trước khi dùng điểm tâm. Mâm thức ăn sáng chưa dọn, còn để trên bàn. Cô y tá người Việt vào kiểm tra huyết áp, đo lượng đường trong máu, rồi rót nước, bỏ thuốc vào miệng bà, ân cần thăm hỏi.

Mẹ chồng tôi không còn nhiều trí nhớ để trò chuyện. Bà hờ hững trả lời những câu hỏi không chính xác, mạch lạc. Những ngày đằng đẳng ở đây đã làm bà trở nên câm lặng. Trái ngược với thuở sinh thời, bà nổi tiếng là người nói nhiều. Ánh mắt vô hồn, lúc nào cũng nhìn lên trần nhà và tách biệt với cảnh vật chung quanh.

Thời gian đầu cách đây mười bảy năm, cô em chồng đã bảo lãnh bà sang Mỹ. Bà đã sống một mình trong một căn phòng mà chính phủ ưu tiên cho người già thuê. Ban ngày bà ở đó, chiều đến con cháu thay phiên đón về nhà ăn, ngủ, tắm rửa. Sáng hôm sau lại tiếp tục, như một em bé đi nhà trẻ, đều đặn từ tháng nọ sang năm kia.

Gần đây, do tuổi tác quá cao (93 tuổi), bà bị té gãy xương đùi, không thể đi lại được,và không thể tự lo vệ sinh cá nhân, nên cô em chồng sau khi bàn tính với các anh chị đã quyết định đưa bà vào đây. Anh em chúng tôi như bị dồn vào ngõ cụt, tiến thoái đều lưỡng nan. Khó tìm một giải pháp vẹn toàn, con đường nào cũng trắc trở, chông gai. Phải chăng là do số phận, do định mệnh hay do nghiệp lực? Cuối cùng phải tự an ủi và chấp nhận, đó là quy luật đời thường mà xã hội đặt ra để giải quyết.

Lúc chưa sang Mỹ, tôi rất có thành kiến không mấy tốt đẹp và phản đối việc đem gửi cha mẹ vào viện dưỡng lão. Giờ đây tôi mới biết rằng tôi hiểu chưa thấu. Luật pháp ở đây không cho người già yếu và trẻ con ở nhà một mình. Thuê người giúp việc thì không có, hoặc rất là đắc đỏ. Con người ở đây chịu rất nhiều áp lực về công việc làm ăn, tiền bạc.

Để đáp ứng nhu cầu vật chất gọi là thiên đường của sự hưởng thụ, người ta phải đánh đổi bằng những món nợ khổng lồ, mà người ta truyền miệng nhau: “không mắc nợ không phải là người Mỹ”, đánh đổi sự mất mát tình cảm, đổ vỡ hạnh phúc gia đinh, có khi luôn cả sinh mạng.

Những tấm gương hiếu thảo của thầy Mẫn Tử Khiên trong Nhị Thập Tứ Hiếu: “thờ cha sớm viếng khuya hầu” sẽ không có chỗ đứng trong thời khóa biểu của các người con ở thời hiện đại này. Chỉ có những viện dưỡng lão mới đáp ứng những lổ hổng mà người con không thể lấp đầy được.

Ở đây, chỉ cần một cái nhấn chuông là có bác sĩ, y tá, điều dưỡng, sẵn sàng đáp ứng, giải quyết điều mình yêu cầu. Mẹ chồng tôi kêu đau bụng, là có ngay hai cô điều dưỡng người Mễ cao to, khỏe mạnh bồng bà đặt lên cái ghế dành cho người khuyết tật, đẩy vào nhà vệ sinh. Tiểu tiện thì tự do thãi vào tả lót, đến giờ họ đi thay.

10 giờ sáng và 3giờ 30 phút chiều, các cụ được tập trung ở phòng giải trí. Những chiếc xe lăn được đẩy tới, xếp thứ tự quanh chiếc bàn dài. Họ tham gia những trò chơi đố chữ, chuyền banh, những trò chơi vận động tay chân, nghe nhạc, xem tivi, và kết thúc bằng bánh ngọt hay trái cây với nước giải khát.

11 giờ 30 và 5 giờ chiều các cụ tập trung ở phòng ăn. Những mâm thức ăn dư thừa năng lượng. Ai không thích ngồi tại đây, thì yêu cầu mang vào phòng. Những chiếc xe lăn được đẩy tới, xếp quanh cái bàn tròn. Bàn này có tám người, ba người đàn ông và năm người đàn bà.

Chỉ có mẹ chồng tôi là người Việt. Ông Mỹ đen trên bốn mươi tuổi, bị tai biến mạch máu não, tay không cử động được, nên người điều dưỡng phải đút cho ông và hai bà kế bên. Tôi đặc biệt chú ý đến một bà Mỹ trắng, tuổi trên độ “thất thập cổ lai hi”, nét mặt thanh tú, dáng người thon nhỏ, mãnh mai. Thời con gái chắc bà được xếp vào hàng mỹ nhân. Đôi mắt to và buồn. . . . đôi mắt như biết nói, khi đối diện với một người nào.

Ngày đầu tiên, bà nhìn tôi cười và chỉ mẹ chồng tôi hỏi “tôi là gì”. Tôi trả lời là “con dâu”. Câu chuyện giữa tôi và bà chỉ dừng lại ở những câu xã giao thông thường. Vốn liếng Anh ngữ nghèo nàn của tôi, không cho phép tôi tìm hiểu sâu hơn nữa. Hoặc nếu bà có tâm sự, tôi cũng không thể hiểu hết được.

Một bữa, tôi thấy bà không chịu ăn, bà ngồi trầm ngâm, rồi những giọt nước mắt liên tục tuôn trào trên gò má xanh xao. . . Bà khóc nức nở. Những người bạn cùng bàn an ủi, làm bà càng khóc to hơn. Tôi nắm tay bà, lau nước mắt và đút cho bà ăn. Bà vẫn khóc như một đứa trẻ. Liên tiếp ba ngày như vậy.

Tôi được biết qua cô y tá người Việt, là lâu rồi con bà không đến thăm. Hình ảnh tôi đút cơm cho mẹ chồng, làm bà nhớ con và chạnh lòng buồn tủi. Những ngày sau cùng, tôi không dám đưa mẹ chồng ra phòng ăn. Tôi không dám nhìn bà khóc thêm nữa. Lòng tôi cũng xao động, nước mắt tôi cũng chảy dài. Bởi tôi là người rất nhạy cảm và dễ xúc động.

Tôi rón rén ra nhìn. Bà ngồi đó, đôi mắt xa xăm, tư lự. Chắc chắn bà đang nghĩ về con bà. Biết bao câu hỏi, đang quay cuồng trong tâm trí: sao lâu rồi con không đến, bận rộn hay có sự bất trắc gì đã xảy ra? Bà vừa lo, vừa buồn, rồi giận, rồi thương, nhớ, làm bà không tự chủ, đè nén những cảm xúc của mình.

Chắc chắn, không biết bao nhiêu lần, cuốn phim dĩ vãng của một thời vàng son đã lần lượt, thường xuyên quay lại trong ký ức của bà. Bà nhớ đến người chồng quá cố, nhớ những đứa con bà hết lòng thương yêu, nhớ những ngày đầm ấm hạnh phúc, nhớ những lo toan, thăng trầm trong cuộc sống. Giờ này con bà có biết bà đang mỏi mòn trông đợi hay không?

Ở đây, cái viện dưỡng lão này chỉ giúp người già cải thiện, bù đắp những thiếu sót về vật chất, mà con cái không thể hoàn thiện được. Bác sĩ, y tá, thức ăn, thuốc men, máy móc, chỉ giúp họ hết đau đớn về thể xác. Cái tensionmètre chỉ đo được chỉ số huyết áp giao động trong ngày, các máy móc kỹ thuật cao phát hiện những tổn thương sâu trong cơ thể.

Tất cả những thứ đó không giải quyết, chữa trị được những đau đớn tinh thần, những giao động tâm lý, những khắc khoải triền miên của lòng khát khao yêu thương. Đó là căn bệnh trầm kha mà không máy móc, bác sỉ, y tá nào chữa trị được. Đó là thứ thức ăn linh nghiệm và hiệu quả mà con người đã mỏi mòn tìm kiếm và chưa bao giờ thấy no đủ.

Mẹ chồng tôi có sáu người con: bốn trai hai gái. Một mình bà nuôi nấng sáu người con khôn lớn trưởng thành. Giờ đây khi tuổi tác chồng chất, sáu người con không chăm sóc được một mẹ già. Dù rất thương mẹ, dù biết công đức sinh thành dưỡng dục, sâu rộng như trời biển; nhưng không thể nào làm tròn bổn phận, bởi những tất bật, căng thẳng và đa đoan của cuộc sống.

Bên Mỹ có ngày Mother’s day và Father’s day. Việt Nam có ngày Vu Lan-Bông hồng cài áo. Ai còn cha mẹ thì cài một đóa hoa cẩm chướng đỏ hay hoa hồng đỏ. Ai mất mẹ thì cái một bông cẩm chướng trắng hay hoa hồng trắng. Một hình ảnh biểu trưng, chọn một ngày để nhắc nhở những ai diễm phúc còn có mẹ, để mà yêu thương và trân quý. Với tôi một ngày trong một năm như thế là quá ít ỏi. Chẳng khác nào hạt muối trong đại dương.

Mỗi ngày, ít lắm mỗi tuần, tệ lắm mỗi tháng, ta phải tự cài lên áo một hoa hồng đỏ, qua một món quà mà mẹ yêu thích: cái bánh, củ khoai, trái chuối, ly sữa. . . . một lời thăm hỏi ân cần, một câu nói ngọt ngào, một ánh mắt ấm áp chan chứa yêu thương, một cử chỉ âu yếm, quan tâm, lo lắng. Đó là đóa hoa hồng đỏ, đã tự nở trên áo của ta, không đợi đến ngày Vu Lan được mọi người nhắc nhở.

Em chồng tôi, đều đặn mỗi ngày ghé thăm mẹ, với những món quà mà bà mẹ Việt Nam yêu thích. Mỗi tuần cô cài đủ bảy hoa hồng đỏ thắm. Bảy ngày hạnh phúc và luôn thầm cảm ơn cái đặc ân còn có mẹ để mà tự nguyện và hiến dâng. Thế mà mẹ chồng tôi vẫn không chịu đựng được sự trống vắng, cô đơn khi không có sự đồng cảm giữa những người xa lạ và ngôn ngữ bất đồng. Lúc nào bà cũng muốn về nhà, khẩn khoản muốn về nhà.

Cùng phòng với mẹ chồng tôi là một bà cụ người Bắc năm 54, mới đưa vào ba hôm. Người con gái lấy chồng lính Mỹ, đã bảo lãnh bà sang đây mười mấy năm về trước. Bà chỉ còn da bọc xương, lưng còng gần 90 độ. Bà nằm co quắp như con tôm luộc chín. Bà không còn đủ sức để ngồi lâu.

Bà chỉ ăn cháo và uống sữa. Buổi trưa, người con gái đem cháo đến đút cho bà, phát hiện đầu bà không ngẩng lên được. Cô ta hốt hoảng la toáng lên: “tại sao bà không ngẩng đầu lên được, tụi nó đã làm gì bà ?  Có phải tụi nó giật đầu, giật tóc bà không ? Để tôi đi hỏi cho ra lẽ?”. Bà không còn hơi sức mà trả lời.

Từ khi bà đến nằm trên cái giường này, tôi chưa nghe bà nói gì ngoài tiếng thều thào yếu ớt: “cho con về nhà, con muốn về nhà”. Bà nhìn tôi cầu cứu, tôi nắm bàn tay khô đét, lạnh ngắt và hỏi bà cần gì. Bà chỉ nói một câu đó, lập đi, lập lại không biết bao nhiêu lần.

Bà tới đây từ một cái viện dưỡng lão khác, mà cô con gái chê là tệ quá. Cô ta sốt ruột vì thấy mẹ mình suy sụp nhanh chóng. Cô phản ứng lồng lộn. Lòng thương mẹ mù quáng làm cô thốt ra những câu nói không tế nhị. Bác sĩ và xe cấp cứu đến, người ta đưa bà vào bệnh viện lớn để rà soát lại cơ thể. Căn phòng chỉ còn lại một mình mẹ chồng tôi.

Sớm mai thức giấc, nhìn quanh một mình
Sáng khuya trưa tối, nhìn quanh một mình
Đời mong manh quá, kể chi chuyện mình

Đó là những câu hát não nùng, thật chua chát và đắng cay mà nhạc sĩ Lam Phương đã viết cho số phận của mình vào cuối đời, với những dư chứng của bệnh tai biến mạch máu não.

Chúng tôi về lại Việt Nam, với linh tính biết đây là lần cuối cùng chúng tôi còn thấy mẹ. Buổi chia tay đẫm nước mắt và đau buồn trĩu nặng tâm tư. Mười ngày sau, vào một đêm cuối mùa hạ 2006, mẹ chồng tôi đã vĩnh viễn không mở mắt nhìn cái trần nhà, mà mấy tháng ròng rã bà ít khi rời nó. Bà ra đi trong sự an giấc của mọi người, âm thầm lặng lẽ không một ai hay biết. Còn biết bao bà mẹ khác cũng đã và sẽ ra đi trong cô đơn tẻ lạnh như thế này.

Tất cả con cháu ở rải rác ở nhiều tiểu bang đau đớn khi nhận được tin khủng khiếp này. Cô em chồng tức tưởi vì bà không đợi cô. Chỉ vài tháng nữa cô sẽ nghĩ hưu non, sẽ đem mẹ về nhà phụng dưỡng. Cô đã không điều đình được với Thần Chết. Mọi người câm lặng chịu đựng.

Trong thâm tâm ai cũng trăn trở, ray rứt, xót xa vì biết bao điều chưa thực hiện: “địa ngục chứa đầy những dự định tốt đẹp”.
Làm sao cân bằng lại tâm lý, tìm lại an bình, một khi lòng cứ khắc khoải bởi những dằn vặt, ăn năn.

Thời gian trôi theo sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật. Người ta đã chế tạo ra nhiều thứ.. kể cả người máy, nhưng có một thứ họ không chế tạo được là trái tim người mẹ. Con người vẫn ăn ngủ, làm việc, theo cái đà tiến hóa. Không biết đủ, không vừa lòng, họ có thể bị con lốc cuốn trôi theo cái thảm họa đua đòi vật chất.

Nếu không cảnh giác không dừng lại đúng lúc, họ sẽ là một thứ nô lệ mà suốt cuộc đời họ không hề biết hạnh phúc đích thực là gi. Quên bản thân, quên quyến thuộc, quên luôn cả tử thần đang rình rập, chờ đợi, bất cứ lúc nào cũng có thể cướp đi sinh mạng vốn đã mong manh trong từng hơi thở.

Tại ai ? Tại con người ? Tại xã hội hay tại ta sinh lầm thế kỹ ?

  Nguyên Thúy
11
Tháng 11
11

Thế giới trước năm 2012

2012 không phải là năm…tận thế như nhiều người tiên tri hoặc tin tưởng, nhưng chắc chắn năm 2012 sẽ là năm quan trọng với nhiều biến động. Những biến động sẽ tạo nên thay đổi cho thế giới về nhiều mặt : chính trị, kinh tế, môi trường và quan trọng hơn hết là nhận thức của con người khởi đầu cho một kỷ nguyên mới – có thể tốt đẹp hơn.

Năm 2011 đã xuất hiện nhiều dấu hiệu, nhiều “ điềm triệu” để nhân loại chuẩn bị bước vào thời điểm trọng đại ấy

Khởi đầu mùa xuân tháng 3 / 2011 là cuộc khủng hoảng tại Nhật Bản sau khi trận động đất trên 8 độ Richte và đợt sóng thần tràn qua nước Nhật. Thảm họa do rò rỉ phóng xạ hạt nhân sau động đất là lời cảnh báo tất cả các quốc gia đã, đang và sẽ thực hiện việc xây dựng những nhà máy điện hạt nhân

Tiếp theo là cuộc cách mạng Hoa Lài tạo nên những thay đổi về chính trị tại Trung Đông. Những chế độ độc tài lần lượt sụp đổ tại Ai Cập, Tunisia… và hoa Lài lan sang nhiều quốc gia khác.

Cao trào cuộc cách mạng Hoa Lài có lẽ là cái chết bi thảm của Đại tá Gaddafi – Libya, một cái chết gây nhiều tranh cãi…

Tháng 8 / 2011 những trận lũ lụt bất thường và tồi tệ đã xảy ra tại Đông Nam Á. Trận lũ lụt kéo dài trên 3 tháng, trong đó đất nước Thái Lan chịu thiệt hại nặng nề nhất . Thái Lan, Campuchia và Việt Nam 3 quốc gia xuất khẩu gạo quan trọng trên thế giới đều cùng bị chung nạn thiên tai giống nhau, nhiều người quan ngại sản lượng gạo cung cấp cho thế giới có thể giảm đi dẫn theo biến động về giá lúa gạo, mối họa đói kém tiềm tàng của năm 2012…!

Và không thể không nói đến phong trào Occupy. Đầu tiên diễn ra tại Hoa Kỳ với 1 nhóm nhỏ người trước thị trường chứng khoán Wallstreet – New York, sau đó phong trào Occupy lan ra khắp nước Mỹ…Để rồi ngày hôm nay Occupy lan ra toàn thế giới  ( với khoảng 80 quốc gia ), đặc biệt tại Châu Âu.

Cho đến hôm nay phong trào Occupy chưa có dấu hiệu ngưng lại mặc dù chính quyền các nước ra sức ngăn cản và mùa đông khắc nghiệt đang dần tới

http://www.youtube.com/watch?v=mmE6fDey_OU&feature=feedu

2012 nhân loại sẽ đi về đâu? Những biến động, chuyển biến trên thế giới có thể sẽ mang lại nhiều đau đớn và tang thương, nhưng chúng ta có quyền hy vọng ở một tương lai tốt đẹp hơn. Một tương lai trong đó con người sẽ ít tham lam hơn, ít độc  ác hơn, biết quan tâm, thương yêu và chia sẽ với nhau nhiều hơn…khi ấy hành tinh của chúng ta sẽ xanh hơn, thế giới sẽ tươi đẹp hơn. Mong lắm thay!

( Những hình ảnh trong bài viết này được lấy từ  internet )

04
Tháng 11
11

Bên lề chuyến đi sang đất Campuchia

Có nhiều chuyện “buồn vui” bên lề chuyến “ xuất cảnh” sang đất Campuchia cảm thấy cần ghi lại.

Rời Sài Gòn lúc 9g sáng bằng xe Phương Trang. Dự trù đến Châu Đốc lúc 16g và Sóc sẽ ở trên núi xuống đón bằng xe gắn máy để cùng vào An Phú. Thế nhưng xe đến sớm hơn 1 tiếng, tức 15 giờ đã đến Châu Đốc, và vì nhiều công việc ngoài ý muốn nên Sóc đến trể hơn dự trù 1tiếng, nghĩa là 17g Sóc mới đến được điểm hẹn. Thế là hôm ấy phải…lang thang giữa chợ Châu Đốc hết 2 giờ đồng hồ! Rất may giữa khu trung tâm Châu Đốc có một ngôi chùa – chùa Bồ Đề Đạo Tràng – vậy là tấp ngay vô chùa. Chùa có một cây Bồ Đề, dưới gốc cây có ghi : “Đây là cây Bồ Đề con…của cây Bồ Đề ngày xưa Phật ngồi”. Thật ra chẳng biết có phải không nhưng cây Bồ Đề này cho bóng mát và dưới gốc có 2 hàng ghế đá. Ghi lại để cám ơn chùa Bồ Đề thật nhiều, cám ơn vì trong chùa có nhà vệ sinh hoàn toàn miễn phí cho khách thập phương, cám ơn hàng ghế đá dưới cội Bồ Đề…nếu không sẽ chẳng biết ra sao nữa…

( Chùa Bồ Đề ở Châu Đốc )

Làm “đặc vụ” muốn thành công phải có đồng đội yểm trợ, chuyến xuất cảnh sang đất Campuchia sẽ không thực hiện được nếu không có Duyên và các bạn ở địa phương trợ giúp công tác mua hàng hóa rồi đóng gói vào bao bì.

Chuyến đi sẽ không bao giờ thành nếu không có chú Tư Hiền, người mà hàng chục năm qua đã cất, dựng biết bao nhiêu ngôi nhà, đã làm nhiều cây cầu, cứu đói cho biết bao người Khmer nghèo khó ngay trên đất Khmer. Chú Tư Hiền chính là gạch nối giữa 2 quốc gia, là một thứ giấy thông hành sống động và bảo đảm để đưa anh em chúng tôi vào đất nước của đền Angkor.

( Chú Tư Hiền )

Chúng tôi cũng không bao giờ quên gia đình anh Tám Được, dù không phải là một đại gia nhưng gia đình anh đã cưu mang anh em làm thiện nguyện trong suốt những ngày chúng tôi lưu lại An Phú. Chuyện cơm nước anh em chúng tôi không bao giờ phải lo. Biết tôi vừa khỏi bệnh vợ chồng anh còn nấu riêng  một nồi cháo !…Rồi buổi tối còn lo chổ ngũ, lo giăng mùng cho những anh em tá túc. Tấm lòng của gia đình anh tám Được chắc kiếp sau mới trả được vì kiếp này nếu anh có lên Sài Gòn chắc tôi không thể lo lắng và tiếp đãi chu đáo như gia đình anh đã lo cho chúng tôi….

( Thành Duyên và anh Tám Được – áo đỏ )

Đến An Phú lúc 19g ngày thứ Sáu 28 / 10 / 2011. Sáng thứ Bảy 29 / 10, chúng tôi đón đoàn Biker Botherhood – hôm nay đoàn Biker sẽ phát 200 phần quà tại An Phú. Mỗi phần quà của đoàn Biker gồm có : 10kg gạo, 1 thùng mì 30 gói, 1 kg đường, 2 chai nước tương, 1 hộp sữa và 2 thùng bánh ngọt dành cho trẻ em. Tất cả kinh phí trong ngày thứ Bảy này đều của anh em Biker Botherhood, Gopmotbantay chỉ làm công tác tổ chức, sắp xếp cho anh em Biker ( nghĩa là “lót ổ” sẳn ).

( Anh em Biker lên thuyền đến điểm phát quà )

( Hình ảnh buổi phát quà của các bạn Biker Bothehood )

Anh em Biker phát quà xong và ra về lúc 11g30. Gopmotbantay và các bạn ở địa phương ở lại để hoàn tất nốt một số công việc cuối cùng, chuẩn bị cho chuyến đi sang đất bạn vào sáng ngày hôm sau.

4g sáng Chủ Nhật mọi người thức dậy để chuẩn bị chuyến đi. 5g sáng hoàng hóa được vận chuyển đến nơi chiếc thuyền neo đậu. Đấy là chiếc thuyền 20 tấn, bình thường được dùng vào việc vận chuyển thuốc Nam ( tất nhiên tất cả đều Free ).

Campuchia là một quốc gia còn nhiều nghèo khó. Khu vực chúng tôi đến hoàn toàn chưa phát triển, đời sống người dân tất cả đều dựa vào nông nghiệp. Tuy vậy nơi đây thiên nhiên hoang sơ, môi trường sinh thái còn rất tốt. Khu vực này cá tôm rất nhiều, người dân nơi đây không bắt cá bằng cách chích điện như ở VN! Giữa biển nước mênh mông, đôi khi ta gặp nhiều đám lau sậy hay lục bình xanh ngắt…đấy là nơi người ta dành cho cá tôm sinh sản…Người dân bảo vệ những khu này.

( Phía xa nơi có màu xanh của lục bình là nơi bảo tồn, dành cho cá sinh sản. Người dân Campuchia không đánh bắt cá nơi này )

Nước mênh mông, nơi nào cũng sâu 4 mét hoặc hơn. Năm nay bên Campuchia mất mùa bông súng ma. Người dân đi đánh bắt cá rất sợ gặp mưa giông vì gió lớn…thuyền lật sẽ….chết dù có biết bơi lội vì khu này quá rộng lớn, không người qua lại

Người Khmer có những phong tục, tập quán khác người Việt. Khi phát quà cho họ, ta phải phát đồng đều. Nghĩa là khi đến một xóm, hay một ấp, ta tập trung họ lại để phát quà thì phải phát hết…có bao nhiêu gia đình là phải phát hết bấy nhiêu. Thường chúng ta chỉ phát quà cho những gia đình nghèo, khó khăn. Những gia đình khá thì không phát . Nhưng với người Khmer thì không được làm như vậy, phát là phải phát hết, nếu không họi sẽ giận và chúng ta vô tình gây chia rẽ trong cộng động cư dân ấy. Vì vậy khi vào đất Campuchia chúng ta phải uyển chuyển, cân nhắc việc phát quà sao cho tránh những việc đáng tiếc có thể xảy ra.

Trẻ em nơi đâu cũng thích bánh kẹo. Chỉ với vài cái bánh nhiều khi chúng ta mang lại được niềm vui cho trẻ nhỏ. Chúng ta chuẩn bị ba thùng bánh và đây là mặt hàng chiến lược để dụ dổ trẻ em….

( mấy cái hình này gọi là “ Một chút mặt trời trong nước lạnh”…)

16g cùng ngày chúng tôi tạm biệt An Phú để ra về. …đường trở về nơi đâu cũng gặp sông nước. Về đến nhà người quen ở Thốt Nốt lúc 19g , nước ở con rạch nhỏ trước nhà bắt đầu lên theo thủy triều…19g30 nước bò vào đến cổng…Đến 21g nước tràn khắp sân…

Sáng thứ Hai 31 / 10 trước khi về lại Sài Gòn tôi đến “ nghiệm thu” một căn nhà vừa hoàn thành. Đó là nhà của anh Nguyễn Văn Phà ở số 189 – tổ 6. Ấp Thạnh Phước 2. Xã Trung Thạnh. Huyện Cờ Đỏ. Thành phố Cần Thơ

Căn nhà được hoàn thành nhờ sự trợ giúp của nhiều người. Trong đó ông bà Margit + Tùng Phạm giúp 5 triệu, Gopmotbantay và các bạn giúp 2 triệu. Tổ từ thiện địa phương giúp cây và giúp công làm nhà. Chủ nhà cũng góp một số tiền để căn nhà được hoàn chỉnh.

( Nhà của anh Phà trước đây )

( Nhà của anh Phà ngày hôm nay )

Thay mặt chủ nhà Gopmotbantay xin chân thành cảm ơn ông bà Margit & Tùng Pham ở Boblingen Germany đã trợ giúp để căn nhà được hoàn thành như hôm nay

 


27
Tháng 9
11

Việc làm từ thiện tại Hoa Kỳ

Xin gởi đến các bạn một bài viết rất hay của anh Bùi Tiến Khôi ( Goipmotbantay nhận được qua e.Mail )

Khắp nơi trên thế giới, ở đâu cũng có những người làm việc từ thiện, những người có lòng nhân từ bác ái muốn giúp đỡ những người khốn cùng nghèo đói bệnh tật hoặc đang gặp tai họa kém may mắn hơn mình….Nhưng không có một quốc gia nào mà có nhiều người làm việc từ thiện như ở Hoa Kỳ và hơn thế nữa Hoa Kỳ đã có những nhà đóng góp vào quỹ từ thiện với số tiền kếch sù nhiều nhất không có một ai ở nước khác sánh bằng.

Những ngày tháng đầu tiên ở Mỹ, tôi thường được người bảo trợ chở đi đây đó khắp thành phố Houston để tìm việc làm. Nhớ có một lần chúng tôi đi trên đường phố gặp một người ăn xin, tôi liền lấy một đô la ra cho. Người bảo trợ có vẻ không vui, tôi đưa mắt hỏi, ông ta giải thích: “Cho tiền người ăn xin này có thể xúi dục anh ta lười biếng, muốn làm việc từ thiện xin hãy góp tiền cho xã hội để xã hội có phương tiện ngăn chận không có một kẻ ăn xin nào.” Một tuần sau tôi có công việc làm tại đại học, người bảo trợ hỏi ý kiến tôi và trừ ngay 2% lương hàng tháng của tôi, trong suốt 30 năm, để đóng góp vào quỹ U.W. cơ quan từ thiện giúp người vô gia cư; người bảo trợ chính là viên chức cao cấp tại đại học này.

Từ thiện là nét đẹp lương tâm cộng đồng Hoa Kỳ, từ thiện là triết lý công bằng xã hội của quốc gia có một nền tự do dân chủ tiền tiến nhất trên quả đất này. Sau hơn 34 năm ở Hoa Kỳ dành nhiều thì giờ hoạt động trong công tác từ thiện, tôi nhận thấy nhiều người Hoa Kỳ đều cho rằng làm việc từ thiện là món trang sức đẹp nhất của con người và hầu hết người Hoa Kỳ đều hân hoan công nhận: thước đo giá trị của con người là lòng từ thiện.

Có hơn một triệu tổ chức, cơ quan hội đoàn từ thiện lớn nhỏ khắp 50 tiểu bang Hoa Kỳ, hoạt động quanh năm. Theo tài liệu của Hội Cố Vấn Gây Quỹ Hoa Kỳ (American Association of Fundraising Counsel) năm 2005 người Mỹ đã đóng góp vào quỹ từ thiện hơn 261 tỷ đô la, trong số này tư nhân đã đóng góp 200 tỷ đô la, ước lượng mỗi gia đình đóng góp 2.2% số lương bổng mang về nuôi sống gia đình, sau khi đã khấu trừ tiền bảo hiểm và thuế. Hoa Kỳ thật là một xã hội đầy những người có tấm lòng quảng đại nhân ái!

Đại học John Hopkins trong một nghiên cứu về nhóm các nước giàu nhất trên thế giới, nhóm G7; đã đưa ra những con số so sánh về tiền đóng góp cho công tác từ thiện với Tổng sản lượng nội địa (Gross Domestic Product = GDP) của mỗi quốc gia để có một ý niệm về tấm lòng rộng lượng bác ái. Hàng năm trung bình dân chúng Hoa Kỳ đóng góp cho các tổ chức từ thiện bằng 1.85% Tổng sản lượng Nội địa, người Đức tệ nhất trong nhóm chỉ 0.13%, người Nhật 0.22%, người Pháp 0.32% và đứng thứ nhì là người Anh quốc tương đương 0.84% Tổng sản lượng Nội địa, vẫn thua xa dân tộc Hoa Kỳ.

Theo tài liệu tạp chí Forbes phát hành đầu năm 2008, hai người giàu nhất Hoa Kỳ là ông Bill Gates người sáng lập hãng Microsoft có tài sản 57 tỷ đô la và ông Warren Buffett sáng lập công ty Bershire Hathaway với 50 tỷ đô la. Cả hai ông đều là những nhà làm việc từ thiện vĩ đại nhất trên hành tinh này; triết lý và quan niệm nhân sinh của hai ông đáng để cho tất cả những kẻ giàu có trên thế giới noi theo.

Thượng tuần tháng 9 năm 2007, đài truyền hình CNBC thực hiện một cuộc phỏng vấn ông Warren Buffett (WB) cuộc phỏng vấn thật dài và tiết lộ nhiều điều lý thú.

Warren Buffett

Từ thuở ấu thơ, WB đã cố gắng dành nhiều thì giờ cho việc học hành và làm việc cật lực để kiếm tiền bằng cách đi bỏ báo. Số tiền kiếm được ông chỉ trích ra một ít để mua sách vở, còn dư ông tính toán để dành. Với số tiền đi bỏ báo dành dụm, năm 11 tuổi ông đã khởi sự tập đầu tư bằng cách mua cổ phiếu. Ba năm sau lúc 14 tuổi ông mua một trang trại nhỏ, học kinh nghiệm trong thương trường địa ốc. Năm 20 tuổi ông đậu bằng cử nhân và năm 21 tuổi ông tốt nghiệp bằng cao học MS tại đại học Columbia. Năm 1970 khi 40 tuổi WB nắm cả hai chức vụ Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám đốc Điều hành Công ty Bershire Hathaway; đại công ty đầu tư này đến ngày nay đã sở hữu 63 công ty khác như: Coca-Cola, Gillette, American Express, Wells Fargo, US Air Group, v…v… Một cổ phiếu loại A của Bershire Hathaway đã có trị giá 151 ngàn đô la vào ngày 11 tháng 12-2007.

Mỗi năm WB chỉ nhắc nhở 63 Tổng Giám đốc điều hành của 63 công ty trực thuộc luôn luôn nhớ hai nguyên tắc chính:

Nguyên tắc 1: Phải làm lợi cho cổ đông, đừng làm mất tiền cổ đông.

Nguyên tắc 2: Phải luôn luôn thuộc lòng nguyên tắc số 1.

Văn phòng làm việc của ông rất đơn giản, không có điện thoại di động, không có máy computer, nhưng ông có đầu óc bén nhạy quyết định sáng suốt hiệu quả. Cuộc sống của ông càng giản dị hơn, ông tự lái xe không có tài xế riêng, không có nhân viên bảo vệ an ninh. Ông không có máy bay riêng và cũng không bao giờ dùng máy bay riêng để đi công tác xa, dầu ông làm chủ một công ty hàng không lớn. Dầu là người giàu thứ nhì trên thế giới với tài sản 50 tỷ đô la, ông vẫn sống trong căn nhà chỉ có 3 phòng ông mua khi cưới vợ hơn 50 năm về trước, không có hàng rào bao bọc chung quanh, giá mua lúc năm 1958 chỉ có 31,500 đô la. Một tỷ phú giàu có và quyền lực như vậy, nhưng ông sống một cuộc đời giản dị nhất, không giao tiếp bạn bè với giai cấp thượng lưu, thú vui của ông là làm một túi bắp rang và đọc sách hoặc xem TV tại nhà.

Warren Buffett quan niệm con người làm ra của cải tiền bạc, nhưng của cải tiền bạc không tạo ra nhân cách con người. Ông cho rằng để tiền bạc cho con cháu chỉ làm cho con cháu ỷ lại không giúp ích gì cho chúng, còn làm chúng mất ý chí động lực thúc đẩy tiến lên. Ông phát biểu:

“Nếu ba đứa con của ông họ Buffett chỉ vì tình cờ may mắn được sinh ra trong gia đình Buffett mà lại có số tiền hàng chục tỷ Mỹ kim di sản để hưởng thụ cuộc đời, thì đó là điều vô cùng bất công, xã hội không còn công lý nữa.”

Năm 2002, ông Bill Gates tỷ phú giàu nhất thế giới mới 47 tuổi quyết định xin diện kiến bậc tiền bối Warren Buffett 72 tuổi người giàu thứ hai thế giới. Bill Gates con người thiên tài điện toán vi tính nghĩ rằng cuộc hội thoại viếng thăm sẽ nhạt nhẽo buồn chán vì hai cuộc sống trái ngược nhau, cuộc đàm luận nhiều lắm sẽ chỉ kéo dài khoảng nửa giờ. Nhưng bất ngờ cuộc trò chuyện thân mật tâm sự lý thú của hai tri kỷ một già một trẻ tuy tài năng trên hai lĩnh vực khác nhau, nhưng cùng một tấm lòng từ thiện bác ái bao la, họ nói chuyện quên ăn quên uống, cuộc tiếp xúc kéo dài 10 tiếng đồng hồ.

Warren Buffett and Bill Gates

 Đông phương chúng ta cách nay hơn 1600 năm có hai nhân vật tài trí lừng danh nhưng chống đối lẫn nhau là Châu Du và Khổng Minh Gia Cát Lượng. Châu Du hộc máu vì tức giận đã lầm kế Gia Cát Lượng, trước khi chết Châu Du oán thán kêu trách trời cao:

“Trời đã sinh ra Du còn sinh chi ra Lượng.”

Năm 2002 sau 10 giờ đàm đạo, Bill Gates đã ngẩng đầu lên trời, cảm tạ Thượng Đế:

“Thượng Đế đã sinh ra Bill, còn sinh ra Warren Buffett nữa, tri kỷ tương phùng.”

Bill Gates đã hoàn toàn kính phục WB về mọi phương diện: tài đầu tư, cuộc sống giản dị, đạo đức nhân cách và làm việc từ thiện.

Năm 2006 ông Warren Buffett hứa tặng 35 tỷ Mỹ kim vào Quỹ Bill & Melinda Gates cơ quan từ thiện khắp thế giới này nhằm mục đích chống nghèo đói, phát triển y tế chữa trị bệnh tật và gia tăng giáo dục cấp học bổng cho sinh viên nghèo hiếu học, do vợ chồng ông Gates thành lập năm 2000. Số tiền khổng lồ này cộng với số tiền Bill Gates tặng vào Quỹ trước đây sẽ vượt quá 70 tỷ Mỹ kim, đây là Cơ quan từ thiện có ngân quỹ hoạt động lớn nhất trên hành tinh này.

Trên thực tế, ông bà Warren Buffett cũng đã lập ra Quỹ từ thiện mang tên Susan Thompson Buffett Foundation từ năm 1966 với số tiền hiện có trong quỹ khoảng 275 triệu và ông Buffett sẽ tặng thêm 3 tỷ đô la nữa trong năm 2006. Nhưng vì sao ông lại đem thêm 35 tỷ đô la nữa tặng vào Bill & Melinda Gates Foundation?

Bill & Melinda Gates

Những người làm việc từ thiện vĩ đại sớm nhất của Hoa Kỳ như ông Andrew Carnegie năm 1919 đã hiến tặng 350 triệu Mỹ kim tương đương 7.2 tỷ hiện nay, ông John D. Rockefeller tặng 450 triệu Mỹ kim năm 1937 trị giá bằng 7.1 tỷ đô la hiện nay; hai vị này đều cho rằng rất khó để điều hành một quỹ từ thiện to lớn tránh khỏi phí phạm, lạm dụng và có khi gây ra tình trạng tham nhũng.

Một Hội từ thiện hoạt động tốt và hiệu quả nhất, chi phí điều hành và nhân viên phải dưới 1% số tiền quyên góp được, như Hội Bác sĩ không biên giới, Hoa kỳ (Doctors Without Borders, USA) mà tôi thường tham dự.

Ông Warren Buffett đã quan sát nghiên cứu phương pháp điều hành quản trị của ông Bill Gates tại công ty Microsoft và tại Bill & Melinda Gates Foundation, ông tin tưởng rằng khi Bill Gates dùng toàn thời gian cho Quỹ từ thiện, Bill Gates sẽ cống hiến sự quản lý khoa học chặt chẽ tốt đẹp nhất trong việc điều khiển 686 nhân viên làm việc cho Quỹ từ thiện này để công tác đạt được hiệu quả tối đa với chi phí điều hành hạn chế tối thiểu. Với lý do này Warren Buffett đã không ngần ngại tặng 35 tỷ đô la vào Quỹ từ thiện Bill & Melinda Gates Foundation.

Bill & Melinda Gates and Warren Buffett

 Làm việc từ thiện ở Hoa Kỳ không những chỉ có người giàu, người khá giả dư tiền mà ngay trong thành phần người nghèo nữa, bởi vì họ là những người đi tìm hạnh phúc trong việc làm từ thiện, một hạnh phúc ý nghĩa lâu dài hơn những nguồn vui ngắn ngủi vật chất. Theo tài liệu nghiên cứu của công ty Justgive.org, những gia đình nghèo ở Hoa Kỳ lợi tức khoảng 10 ngàn đô la mỗi năm, trung bình đã đóng góp từ thiện 520 đô la, nghĩa là bằng 5.2% lợi tức, một tỷ lệ cao nhất nếu đem so sánh với bất cứ thành phần nào trong xã hội.

Ngoài công việc đóng góp tiền bạc để làm việc từ thiện, người Hoa kỳ còn đóng góp thì giờ không đòi trả lương để làm công tác thiện nguyện. Theo thống kê năm 2005, đã có 65.4 triệu người Hoa Kỳ tự nguyện cống hiến trung bình hơn 50 giờ làm việc thiện nguyện trong năm này. Xã hội Hoa Kỳ đua nhau làm việc từ thiện bằng mọi cách, mọi hình thức, đây là một quốc gia giàu lòng từ thiện quảng đại nhất, chẳng những giúp người kém may mắn trong nước mà còn viện trợ nhân đạo khắp cả hoàn cầu.

Cuối thế kỷ 20, Viện Gallup đã nhiều lần làm những cuộc thăm dò, nhất là cuộc nghiên cứu thăm dò vào năm 1999 để xem nhân loại bình bầu chọn ai là người làm việc từ thiện đáng ngưỡng mộ kính phục nhất của thế kỷ hai mươi. Kết quả cuộc nghiên cứu thăm dò thật khoa học đúng đắn này, người được bình chọn không phải là người Hoa Kỳ, mà là Mother Teresa sinh ra đời năm 1910, cha mẹ là người Albania, nhưng Mẹ Teresa mang quốc tịch Ấn Độ, theo đạo Công giáo. Năm 1950 Mẹ Teresa được Giáo hội Vatican cho phép thành lập Hội từ thiện Missionaries of Charity, hội chuyên lo giúp đỡ những người nghèo khó khốn cùng, những người mắc bệnh cùi hủi, bệnh AID/HIV, bệnh ho lao, những cô nhi quả phụ không nơi nương tựa. Cho đến ngày 5 tháng 9 năm 1997 khi Mẹ Teresa mất, Hội Từ thiện Missionaries of Charity đã có 610 cơ sở gồm 400 thầy tu, 4000 tu nữ và gần 100 ngàn nhân viên thiện nguyện hoạt động trong 123 quốc gia để cứu người giúp đời.

Công việc làm từ thiện của Mẹ Teresa đã được nhiệt liệt hoan nghênh cùng khắp thế giới. Năm 1962 quốc gia Phi Luật Tân trao tặng cho bà giải thưởng Ramon Magsaysay về những công tác nhân đạo của bà ở Đông Nam Á. Năm 1971 Đức Giáo hoàng Paul VI tặng thưởng cho bà Giải thưởng Pope John 13 Peace Prize. Năm 1973 Mẹ Teresa nhận giải thưởng Templeton Prize, giải thưởng giá trị kim ngân lúc nào cũng cao hơn giải Nobel, vì nhân cách đạo đức của bà cùng những việc làm từ thiện trên thế giới. Năm 1979 Mẹ Teresa được trao tặng giải thưởng Nobel hòa bình, bà đến nhận giải thưởng để lấy tiền giúp người nghèo tại Ấn Độ nhưng bà từ chối tham dự bữa tiệc sang trọng tiếp sau lễ trao giải thưởng.

Một phóng viên báo chí hỏi bà:

“Chúng ta có thể làm gì để cổ võ hòa bình trên thế giới?”

Bà mỉm cười hóm hỉnh:

“Hãy đi về nhà và yêu thương gia đình của bạn.” (Nguyên văn: Go home and love your family).

Năm 1985, Tổng thống Hoa kỳ Ronald Regan trao tặng cho Mẹ Teresa huy chương President Medal of Freedom, một trong những huy chương cao quý nhất của quốc gia này. Những năm trong thập niên 1980, Hội Từ thiện Missionaries of Charity hoạt động mạnh tại Hoa Kỳ và có trên 19 cơ sở, từ khu nghèo nàn Harlem của thành phố New York đến Trung tâm săn sóc bệnh nhân AID/HIV tại San Francisco. Trong thời gian này Mẹ Teresa thường đi gây quỹ kêu gọi lòng hảo tâm của những người Hoa Kỳ thích làm việc từ thiện.

Năm 1984 tôi được thành phố Houston bầu vào chức vụ Houston’s Poet Laureate, nhà thơ Công huân Danh dự của thành phố Houston. Trong ba năm 1984-1987 tôi được mời làm diễn giả chính, keynote speaker của các buổi lễ văn hóa, xã hội từ thiện. Một lần trong năm 1986 để chuẩn bị đón tiếp Mẹ Teresa trong buổi lễ gây quỹ từ thiện cho Missionaries of Charity, tôi đã chuẩn bị soạn sẵn một bài diễn văn thật ý nghĩa cảm động chào mừng bà và để gây cảm hứng cho những tấm lòng quảng đại từ tâm.

Mẹ Teresa đã đến hơi trễ và bất ngờ bà đến thẳng bục cao, cầm micro hướng về quan khách, bà dịu dàng nhỏ nhẹ:

“Tôi đã chọn những kẻ nghèo đói khốn cùng, những kẻ cùi hủi, bệnh AID/HIV, những kẻ tàn tật đui mù vô gia cư, những kẻ bị xã hội ruồng bỏ để phục vụ và tôi vô cùng biết ơn lòng từ thiện rộng lượng của quý vị để giúp chúng tôi theo đuổi công tác nhân đạo này. Xin lỗi tôi không có thì giờ nghe diễn văn cùng theo đúng chương trình sắp đặt của quý vị và xin vui lòng nhớ rằng ngay trong giờ phút này hàng triệu cặp mắt của những kẻ khốn cùng đang mở to cầu cứu hướng về quý vị.”

Mẹ Teresa đã phá lệ không theo chương trình của ban tổ chức, nói xong bà tiến đến bắt tay từng người để từ giã ra đi. Khi bà đến chỗ tôi đứng, tôi giơ cao hai tay lên ôm lấy bà, hôn lên khuôn mặt đầy những nét nhăn nheo của bà, khuôn mặt mẹ hiền nhân loại, khuôn mặt đạo đức đẹp nhất của loài người. Hôm ấy một số tiền lớn được quyên góp và trao tặng cho người đại diện của Missionaries of Charity. Cho đến cuối năm 2007, dân chúng Hoa Kỳ từ người trung lưu đến các tỷ phú đã đóng góp một phần lớn cho ngân sách hoạt động từ thiện của hội này.

Hoa kỳ cùng thế giới đang tiến vào thời gian cuối của thập niên đầu thế kỷ 21 và đang trải qua cơn khủng hoàng tài chánh, đời sống phải đương đầu với nhiều khó khăn. Nhưng dầu trong hoàn cảnh nào, xin lấy câu châm ngôn:

“If you are not poor enough to take charity, you are rich enough to give it”.

Nếu bạn không nghèo đủ để xin tiền từ thiện, như vậy bạn giàu đủ để đóng góp làm việc từ thiện.

Huy Lực Bùi Tiên Khôi

20
Tháng 8
11

Vu Lan 2011 ( TT )

Trường trung học cơ sở Kiến An thuộc huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Trường cách bến phà Thuận Giang khoảng 3km, người dân địa phương còn gọi trường Nhà Tằm vì ngày trước nơi đây là cơ sở nuôi tằm tơ

Chúng tôi có mặt ở trường lúc 7g15 phút sáng ngày thứ Hai 15 / 8 / 2011 để chuẩn bị phát 100 phần tập vở, bút viết cho các em học sinh có hoàn cảnh khó khăn nơi đây. Mỗi phần gồm 10 cuốn tập, 2 viết bic và 1 viết chì, đây là quà của Gopmotbantay và các bạn. Dịp này ban giám hiệu trường Kiến An góp thêm vào mỗi phần 5 cuốn tập, như vậy mỗi phần hôm nay được 15 cuốn tập

Ngoài ra nhà trường còn vận động được một số học bổng, quần áo cho các học sinh nghèo và 13 chiếc xe đạp cho các em nhà xa có hoàn cảnh khó khăn. Trong số 13 chiếc xe đạp, Gopmotbantay ủng hộ 3 chiếc

Gởi các bạn hình ảnh trong buổi phát quà

Buổi lể kết thúc lúc 8g15, tôi ở lại trong phòng ban giám hiệu trong khi chờ có xe đưa về. Cuộc sống người dân vùng nông thôn VN còn rất nghèo khó, ngồi trong phòng ban giám hiệu một lúc tôi phải chứng kiến mấy trường hợp phụ huynh đến xin quần áo đồng phục hoặc xin xe đạp cho con em. Rất tiếc khả năng chúng ta quá hạn hẹp nên không thể ôm hết thế giới này

Rời trường Kiến An tôi trở về tạm trú tại nhà thầy Màu cho đến gần 18g chiều mới qua phà Mương Ranh để đến huyện Châu Thành tỉnh An Giang. Đêm nay tôi theo Phong đến thăm một người bạn tu học tại Myanmar mới trở vế VN, vì vậy chúng tôi về nhà khá trể. Những con hẻm nhỏ nơi vùng nông thôn thường không có đèn đường, chúng tôi dung đèn pin để đi. Năm nay nước lớn hơn mấy năm trước, chúng tôi không thể đi bộ để đến trại của Phong như mọi hôm mà phải dùng xuồng. Trong đêm tối con xuồng nhỏ chòng chành giữa vùng nước mênh mông, loay hoay thế nào xuồng lật nghiêng và tôi rơi xuống nước cùng với chiếc ba lô đang đeo trên người….

( Nước mênh mông đồng ruộng vì nơi này chưa đắp đê bao. Chính nơi này đêm qua tôi biết được nước ngập qua đầu ! )

Buổi sáng thứ Ba 16 / 8 / 2011 tôi đón xe để đến huyện Thốt Nốt tỉnh Cần Thơ. Từ đầy một người bạn địa phương dùng xe gắn máy đưa tôi đến thăm và trao tiền cho những người nghèo khó bệnh tật. Giống như ở Đồng Tháp, mỗi người bệnh khổ sẽ nhận được 200.000$, đây là tiền của chị Tâm Thành và Gopmotbantay làm theo yêu cầu của chị

Gởi các bạn hình ảnh ngày hôm nay

( Gia đình này chỉ có 2 vợ chồng. Lần trước đến thăm người chồng đi bán vé số nuôi vợ bị tiểu đường nặng. Hôm nay trở lại người vợ thành người thiên cổ còn lại người chồng buồn thiu trong căn nhà lá ven sông! )

Tôi rời khu vực Thốt Nốt, Cờ Đỏ sau khi giải quyết được 8 trường hợp. Đón đò Thuận Hưng tôi sang cù lao Tân Lộc đến nhà thầy Toàn để đặt may tiếp 300 cái ba lô cho học sinh. Công việc còn rất nhiều, sự đau khổ còn vô số, chỉ e sức khỏe không còn đủ để tiếp tục công việc. Đến đâu hay đến đó vậy, đôi khi chúng ta cũng phải mặc kệ mọi chuyện…tất cả đều được trên cao sắp sẵn…




Top Clicks

  • Không
Photobucket
Photobucket

Blog Stats

  • 35,805 hits
free counters

Visitors online

Fish

Bạn có tin…

khi một con bươm bướm đập cánh ở rừng già Amazon, nó sẽ tạo nên những làn sóng rung động trong không khí và lan mãi...lan mãi cho đến tận Tử Cấm Thành ở Bắc Kinh? Butterfly

 

Tháng Năm 2012
T2 T3 T4 T5 T6 T7 CN
« Tháng 4    
 123456
78910111213
14151617181920
21222324252627
28293031  

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.