Thế giới nói chung và VN nói riêng ngày nay vẫn đầy dẩy sự đau khổ. Nghèo đói, thất học và bệnh tật là những hình thái đau khổ phổ biến nhất, hiện hữu từ xưa đến nay dù ở bất kỳ quốc gia nào. Những sự đau khổ có những nguyên nhân giống nhau tuy cách xa về không gian và thời gian. Trong cơn lốc xoáy của nạn lạm phát, khi sự đau khổ của người dân nghèo lên đến cao điểm ta thử xem lại một đoạn kinh của Đức Phật trích trong kinh “ Thủ hộ quốc giới chủ Đà La Ni “ bản dịch của thầy Thích Thông Đức
Phẩm thứ mười
THỌ KÝ VUA A XÀ THẾ
Lúc ấy, trong hội vua A xà Thế nước Ma Kiệt Đà, liền từ chổ ngồi đứng dậy, trịch áo bày vai hữu, gối quỳ sát đất, chắp tay cung kính đảnh lễ chân Phật mà bạch Phật rằng :” Đức Thế Tôn Như Lai nay ở tại nước con, dưới cây Bồ Đề, nói đà la ni và mạn trà la, đã có vô lượng vô biên công đức như thế. Vì sao nước Ma Kiệt Đà mưa gió không thuận, nắng mưa không chừng, đói kém luôn mãi, oán địch xâm tổn, tật bịnh vô lượng, trăm ngàn tai nạn? Duy nguyện Thế Tôn dứt trừ lưới nghi của con “
Lúc ấy, Đức Thế Tôn khen vua A Xà Thế, nói lời như vầy : “ lành thay, lành thay, đại vương thỉnh hỏi nghĩa ấy, trong đời vị lai được nhiều lợi ích cho tất cả chúng sanh. Đại vương lóng nghe, lóng nghe, khéo suy nghĩ đó, ta vì ông phân biệt giải nói”
Đại vương, như lời vua nói, trong nước của ông thường có đói khát, oán địch…Thủ Hộ Quốc Giới Chủ đà lai ni này, lấy sáu mươi cu đê na do tha đà la ni làm quyến thuộc, Đại Kim cang Thành mạn trà la này lấy ba ngàn năm trăm mạn trà la làm quyến thuộc, nhưng tất cả lấy tín tâm làm căn bản, lấy Bát Nhã thâm sâu làm tiên đạo, tâm đại Bồ Đề và tâm Đại Bi dùng làm trang nghiêm. Đại Vương, tất cả pháp lành thảy đều từ đà la ni này phát sanh, tất cả tội ác, chẳng tin nhân quả là cội gốc.
Đại Vương, ông nay chẳng tin nhân quả, đam mê 5 món dục lạc, như ngọn gió lớn thổi tín tâm và tâm Bồ Đề , Đại Bi, tổng trì thảy đều xa lìa. Đại Vương nay tuy có mắt có tai, chẳng khác người mù điếc, không nghe tiếng sấm nổ, không thấy mặt trời, mặt trăng. Vì cớ sao? Danh tự ông vua còn chẳng được nghe huống là tiếng khác. Vì sao gọi là vua? Vả lại, nói vua tức là nghĩa “ La Nhạ”. Âm thanh chữ “La” là tiếng nói khổ não, tiếng kêu khóc, sầu than, không chủ, không quy, không cứu, không hộ. Vua phải thường dẫn dụ mà nói thế này : “ ông chớ khổ não, ta là ông chủ, phải cứu hộ ông, hảy lau nước mắt, ta chu cấp dưỡng dục cho” Âm thanh chữ “Nhạ” là nghĩa tối thắng, là nghĩa giàu sang, nghĩa tự tại, là nghĩa thù thắng, là nghĩa dõng mãnh, là nghĩa đoan chánh, là nghĩa trí huệ, là hay diệt hết tự cao kiêu mạn của tất cả chúng sanh, là nghĩa bao bọc kẻ khác vượt qua.
Đại vương, ông hiện nay không tin nhân quả, thân cận bọn ác Đề Bà Đạt Đa, bắt cha bỏ tù, đói khát không chết, rồi chặt chân cha. Khiến Đề Bà làm thân Phật ra máu, lại ủng hộ tích của để phá hòa hợp Tăng, cho voi ác uống rượu say, chà đạp Như lai. Đại vương, ông nay lại có những tội rất lớn, làm cho băng hoại pháp nhãn thanh tịnh của tất cả chúng sanh, đoạn dứt pháp chơn chánh của chư Phật, đóng kín cửa niết bàn, nhơn, thiên; khai mở cửa tam đồ, sanh tử, ác thú. Vì cớ sao? Ông là quốc vương dạo du ngoạn cảnh, nghiêm sức voi ngựa một vạn, hai vạn kẻ phục tùng, xa mã, hai ba mươi vạn người hầu hạ. Lại lấy máu của chúng sanh dùng để tô điểm voi ngựa”.
Lúc ấy vua A Xà Thế nghe lời ấy rồi bạch Phật rằng : “ Thế Tôn, con nay trộm nghĩ chưa từng lấy máu bá tánh dùng để tô điểm cho voi ngựa. Thế Tôn, vì cớ sao nói lời như vậy?”. Phật dạy : “ Đại vương, voi ngựa của vua, mỗi mỗi đều lấy nghệ, long não, chiên đàn, trầm, xạ hòa hợp làm hương phấn dùng tô điểm cho voi ngựa. Các loại hương như thế đều xuất phát nơi bá tánh, suy ra bá tánh chẳng khác hạt mè ép lấy dầu, hàng ngàn nhà bần cùng khốn khổ mọi điều, không thể cung cấp tiền bạc chi phí cho một con voi. Cho nên phải biết máu thịt bá tánh dễ nào làm được. Hương như vậy tìm cầu rất khó, đại vương nếu nghi, phải tự tuần tra các nhà tù, vạn họ thọ khổ quá hơn nơi địa ngục. Đại vương bức đoạt chổ có tiền tài của bá tánh cho mình hào qúy giàu sang thỏa thích, ngày đêm xa phí, người nghèo cùng lẫn thêm khốn khổ, khiến mọi người cô phụ nghèo cùng khốn đốn, không chổ cậy nhờ đều cầu xuất gia. Người như vậy không có Hòa Thượng A xà lê, chẳng thọ cấm giới, mặc áo cà sa, tự ở, không có giáo pháp, khiến các hữu tình tâm sanh khinh tiện, chẳng muốn thấy nghe. Đó là nguyên nhân đại vương gạt bỏ pháp nhãn, đoạn diệt Phật pháp, đóng cửa nhân thiên, mở đường ác thú. “
Đọc đoạn kinh này ta thấy ngày xưa và ngày nay sao giống nhau nhiều quá. Người xưa và người nay làm các việc ác tất cả là vì không tin nhân quả, chết rồi chẳng có quả báo, luân hồi. Ngày xưa vua A Xà Thế lấy máu bá tánh tô điểm ngựa xe, ngay nay các đại gia, các vị “quan chi phụ mẫu” cũng lấy máu bá tánh để tô điểm nhà, xe của mình. Người dân ngày nay và ngày xưa, đều như hạt mè ép lấy dầu. Hàng ngàn, hàng vạn nhà bá tánh phải bị ép để lấy tiền tạo nên bao cảnh xa xỉ hoang phí! Có những chiếc xe giá cả triệu dollars, có những căn nhà giá hàng chục triệu dollars, tiền ấy từ đâu mà ra, có lẽ ai cũng biết. Số tiền ấy nếu dùng vào những việc công ích để lo về giáo dục, y tế.v.v.. thì nỗi khổ người dân sẽ vơi bớt rất nhiều. Chính vì khốn khó trong đời sống nên nhiều kẻ tìm đến nhà chùa, không vì lý tưởng giải thoát mà vì họ xem chuyện đi tu như một loại nghề nghiệp kiếm sống. Thế nên kết quả người đi tu trong trường hợp này và người tạo nên hoàn cảnh thúc đẩy người ta vào chùa với tư tưởng như thế này , tất cả đều “ gạt bỏ pháp nhãn, đoạn diệt Phật pháp, đóng cửa nhân thiên, mở đường ác thú”!
Ta hảy xem tiếp phần kinh này cũng trong phẩm THỌ KÝ VUA A XÀ THẾ, bản dịch của thầy Thích Thông Đức trang 307
Đại vương, ta nay nói cổ tích và nhân duyên vua phải lóng nghe và suy nghĩ hiểu rỏ nghĩa đó. Đại vương, về đời xa xưa, có Phật ra đời hiệu Ca Diếp Ba Nư Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Đức Phật kia nói pháp ban đầu, giữa, và sau đều lành, chỉ bày phạm hạnh. Lúc ấy có vua Ngật Lý Chỉ, ở chổ Như Lai sanh tâm thanh tịnh thâm tín. Vua, một đêm nọ, thấy 2 điềm mộng: Một điềm mộng, thấy 10 con khỉ, 9 con làm loạn trong thành, hết thảy nhân dân, thê thiếp, nam nữ xâm đoạt ăn uống, phá hoại thập vật, luôn luôn lấy vật không sạch mà làm ô uế, chỉ có 1 con khỉ giữ tri túc, ngồi yên trên cây, không nhiễu rối cư dân. Lúc ấy, 9 con khỉ kia đồng tâm não loạn con khỉ tri túc, làm mọi việc lưu nạn và trục xuất ra khỏi chúng hội.
Điềm mộng thứ hai : thấy một bạch tượng gống như núi lớn, đi vào cửa vua, đầu đuôi có miệng đều ăn cỏ và uống nước, tuy thường ăn uống lai luôn gầy ốm. Lúc vua tỉnh giấc rất là sợ sệt, mời nhà chiêm tinh tìm hỏi nguyên nhân điềm mộng. Chiêm tinh bạch vua, chín con khỉ là 9 ông vua, con khỉ tri túc là đại vương, 9 ông vua đồng tâm chiếm đoạt ngôi báu của đại vương. Voi có 2 miệng tức là 9 ông vua ăn hết cả quốc ấp và gồm cả vương quốc. Vua nghe lời đó rồi kinh sợ rợn chân lông mà tâm chưa quyết định, muốn thấy Phật để dứt trừ nghi hoặc, liền sai tả hữu nghiêm sức chuẩn bị món món cúng dường đầy đủ, nhứt tâm đến chổ đức Phật Ca Diếp, đến rồi làm lễ đem các món cúng dường đầy đủ dâng lên Đức Như lai, chắp tay cung kính mà bạch Phật rằng : Thế Tôn, con ở đêm qua nằm mộng chẳng lành, duy nguyện Thế Tôn vì con giải nói, khiến dứt trừ lưới nghi” Lúc ấy, vua thuật đầy đủ giấc mộng bạch Phật. Phật nói : “ Đại vương, điềm mộng của vua không phải của vua chớ sanh buồn khổ, vua khéo lóng nghe, ta vì vua nói. Đây là đời ác năm trược trong vị lai, có Phật ra đời hiệu là Thích Ca Mâu Ni, sau khi diệt độ đến lúc tượng pháp. Đại vương, 10 con khỉ đó tức là 10 hạng đệ tử Phật”. Vua bạch Phật rằng :” Thế Tôn, 10 hạng đệ tử Phật kia như thế nào?”
Phật Ca Diếp dạy rằng:
Một , sợ nghèo không sống nỗi mà làm Sa môn
Hai, sợ làm nô bộc, khoác áo Sa môn
Ba, sợ mang nợ mà làm Sa môn
Bốn, tìm cầu chổ thiếu sót của Phật Pháp mà làm Sa môn
Năm, vì muốn hơn người mà làm Sa môn
Sáu, vì cầu danh tiếng mà làm Sa môn
Bảy, vì muốn sanh lên cõi trời mà làm Sa môn
Tám, vì lợi dưỡng mà làm Sa môn
Chín, vì muốn làm vua trong đời sau mà làm Sa môn
Mười, tâm chân thực mà làm Sa môn”
Lúc ấy, đại vương kia bạch Phật rằng :” Thế Tôn, 10 hạng Sa môn đây, tướng trạng đó như thế nào?” Đức Phật kia đáp rằng :
“ Đại vương, sợ nghèo không sống nỗi mà làm sa môn, có nhiều chúng sanh không tin nhân quả, tham cầu tài bảo, xâm đoạt lẫn nhau, bèn cảm đến trời đất, mưa móc không đúng thời, ngũ cốc không mọc, đóng thuế không đủ cho quan, nghèo đói bức bách, buôn bán nam nữ, không chổ cậy nhờ, nhặt loại giẽ rách kết thành ca sa , tự cạo râu tóc làm giống sa môn. Không A xà Lê cũng không Hòa Thượng, không giới, không pháp, tương tợ Sa môn, mãi mãi thọ hành tất cả pháp ác. Vào trong Tăng già, tự xưng là Luật sư, Thiền sư, Pháp sư, Đại Đức. Ngồi ở trước chúng, bảo các tăng chúng khác rằng “ các ông đều là đệ tử của ta” Chổ cư sĩ tịnh tín, tộc tánh trưởng giả, nhà Bà La môn, vào ra phóng túng, tạo nhiều lỗi lầm. Đó là hạng thứ nhất, sợ nghèo không sống nỗi mà làm Sa môn
Đai vương, thế nào là sợ làm nô bộc, khoác áo Sa môn? Làm nô tỳ, hạ tiện lại suy nghĩ, vì sao suốt đời ta thọ sự sai khiến của người khác? Chạy trốn, xuất gia, đó là hạng thứ hai.
Đại vương, thế nào gọi là sợ mang nợ mà làm Sa môn? Có chúng sanh mắc nợ công và tư, lợi tức đã nhiều, chẳng thể hoàn trả, đã bị bức bách, lẫn trốn xuất gia, đó là hạng thứ ba
Đại vương, thế nào gọi là tìm cầu chổ thiếu xót của Phật Pháp mà làm Sa môn? Các ngoại đạo tâm sanh đố kỵ, nhóm họp lại luận bàn, ai thông minh lợi căn có trí, biện luận giỏi, vào trong Phật Pháp học pháp thế và xu
ất thế kia, dòm ngó chổ phải quấy, rồi lại trở về với chúng ta. Đối trước quốc vương , đại thần, trưởng giả, luận bàn nêu lên chổ thiếu xót, làm băng hoại phá diệt chánh pháp của Phật kia, đó là hạng thứ tư
Đại vương, thế nào gọi là cầu hơn người mà làm Sa môn? Hoặc có chúng sanh nghe người nào đó, mặc y, cạo tóc, có đa tài hay thông suốt ba tạng tâm sanh cầu danh liền đi xuất gia học kinh, luật, luận, chỗ tu pháp lành đều muốn hơn người, đó là hạng thứ năm.
Đại vương, thế nào là vì cầu danh tiếng nên làm Sa môn? Hoặc có người riêng tự suy nghĩ, ta nếu ở tại gia không có danh tiếng, ta phải nên cạo tóc, mặc y xuất gia, siêng học đa văn, thọ trì cấm giới, ở trong đại chúng, ngồi thiền, nhập định, khiến kẻ khác biết danh, đó là hạng thứ sáu.
Đại vương, thế nào gọi là vì cầu sanh lên cõi trời mà làm Sa môn? Hoặc người nghe nói trong các cõi trời sống lâu vui sướng, ta không có phương tiện được sanh lên đó, bèn liền cạo tóc, nhuộm y xuất gia, tu trì pháp lành, cầu nguyện sanh Thiên, đó là hạng thứ bảy
Đại vương, thế nào gọi là vì lợi dưỡng mà làm Sa môn? Hoặc có người trước có tài bảo, lại cầu chổ hơn trên, trang sức tịnh xá tốt, phòng ốc được tốt đẹp, dùng để ngơi nghỉ, tự mình thọ dụng tài sản của người khác, đó là hạng thứ tám
Đại vương, thế nào gọi là muốn đời tương lai được làm vua nên làm Sa môn? Có chúng sanh thấy chổ quốc vương tự tại, được người tôn sùng, giàu có, an vui, lại sanh ưa thích, vì cầu xuất gia tu mọi thiện căn chỉ nguyện đời sau được sanh nơi vương cung, đó là hạng thứ chín
Đại vương, vì sao gọi là tâm chân thực mà làm Sa môn? Có chúng sanh tuy sanh trong dòng Sát Đế Lợi, đại thần, tộc tánh, nhà Bà La Môn, hoặc sanh trong nhà trưởng giả, cư sĩ, thương chủ giàu có, thanh xuân mỹ mạo, quán các tài, sắc, phú qúy, vinh hiển, giống như mây trôi, bọt nước, điển chớp, sanh diệt không trụ, bèn khởi lên sự nhàm chán, phát tâm bồ đề. Thân hữu, trân báu, tài vật thảy đều xả, một đạo xuất gia, chuyên trì luật nghi, học pháp tu thiền, tinh cần, chẳng phải người giải đãi. Phàm làm việc gì đều vì chúng sanh, chỉ cầu quả Vô thượng bồ đề, đó là hạng chân thực tâm xuất gia làm sa môn thứ mười.
Đại Vương, phải biết điềm mộng vua thấy đó, thấy một con khỉ thiểu dục tri túc riêng ở trên đây, không làm tổn hại người tức là “ chơn thực sa môn” trong chánh pháp của Đức Thích Ca Như lai còn sót lại. Chín con khỉ làm tổn hại mọi người, đồng tâm khai trừ tẩn xuất một con khỉ kia tức là chín hạng sa môn trước trong chánh pháp của đức Thích Ca Như Lai. Sa môn không có pháp nên gọi chung là tương tợ Sa môn. Đồng làm hạnh ác, cùng khai trừ hạng sa môn chơn thực ra khỏi chúng. Đại vương, ác sa môn đây phá giới làm điều không lành, ô uế tất cả nhà tộc tánh, hướng đến quốc vương, đại thần, trưởng giả luận nói, hủy báng Sa môn chơn thực. Nói ngược, phải cho là quấy nói là người ác phá giới, ác hạnh. Chẳng họp cùng ta giữ giới Tỳ khưu, cùng ở một nơi Bồ tát nói giới, cũng chẳng hợp cùng một chùa, đồng một ấp hay một nước. tất cả điều ác thảy trút cho hạng sa môn chơn thực kia, để mong quốc vương, đại thần, quan trưởng giúp đở, khiến khai trừ Sa môn chơn thực ra khỏi nước hết. Người phá giới đi lại tự tại, cùng với quốc vương, đại thần, quan trưởng cùng làm thân hậu. Đại vương, chổ có giáo pháp của đức Thích ca như lai, hết thảy thiên ma, ngoại đạo, người ác, ngũ thông thần tiên đều không thể phá hoại cho đến một phần nhỏ, chỉ vì danh tướng ác Sa môn này thảy đềy hủy diệt khiến không còn sót. Ví như núi Tu Di, giả sử trong tam thiên thế giới hết thảy cây cỏ đều là củi, thiêu đốt lâu ngày không tổn một sợi lông, nếu kiếp kia khởi lên lửa từ trong sanh ra, chốc lát thiêu đốt thành tro không sót
( Lúc ấy đức Phật Ca Diếp nói kệ trùng tuyên )
Đức Ca Diếp Như Lai nói bài kệ rồi, lại bảo vua Ngật Lý Chỉ rằng :” Đại vương, ông thấy điềm mộng bạch tượng có 2 miệng, ở trước cửa vua thường ăn uống nước cỏ, thân lại gầy ốm, cũng chẳng phải việc của vua. Tức là chánh pháp của đức Thích Ca Như Lai, trong đời ác năm trược, trăm quan lâu dài không tin nhân quả, trên thọ lộc của đế vương, vẻ vang phước lộc, dưới bá tánh ruỗi cầu điều quấy. Tuy lại tham cầu mà nhiều kho thiếu thốn, thuế má vô độ, vạn dân nghèo cùng, mua bán con cháu, gia nghiệp tiêu tán, cạo tóc vào chùa, chùa lại bỏ hoang, nhiều Tỳ khưu ác khởi tâm vô địa. lại ngươi ngoại đạo phái Lộ già gia chấp đoạn, thường, dị học .v.v… xuất gia, tà kiến không tin nhân quả, thầy trò đều đọa, tự vào địa ngục. Lại cùng lắm người mở cửa địa ngục dẫn vào ba đường ác, đóng cửa trời người, do đâu được thoát?
Đại vương, phải biết trong 2 điềm mộng là đời tượng pháp của đức Thích Ca Như Lai chẳng can hệ gì vua “
Theo Phật giáo, Giáo pháp của đức Phật sẽ trải qua 3 thời kỳ
Thời Chánh pháp : Kể từ lúc Phật nhập diệt đến khoảng 500 năm về sau, giáo pháp của Phật được giữ gìn nguyên vẹn
Thời Tượng pháp ( Tượng là “giống như “ ) Khoảng 1000 năm kế tiếp
Thời Mạt pháp : Trong khoảng 1000 năm tiếp sau thời Tượng pháp. Thời này
giáo lý, phương pháp tu hành đã sai lạc rất nhiều so với thời Chánh pháp và Tượng pháp
Ngày nay là thời mạt pháp
Đoạn kinh trên nói về thời Tượng pháp. Thời Tượng pháp đã như thế thì mạt pháp ngày nay sẽ còn bi thảm đến đâu?. Ngày nay chỉ toàn là “ tương tợ Sa môn” hay “ tương tợ Tỳ khưu “ thôi ! Những vị nào là “ Chơn thật Sa môn” chắc chắn sẽ bị nhiều bức hại của các loại “ tương tợ Sa môn”. Ngày nay “ Trăm quan” đều như con voi 2 miệng ăn không biết no, không tin nhân quả. Trên thọ lộc của quốc gia, vẻ vang phước lộc, dưới chẳng thương bá tánh, làm nhiều điều quấy, thuế má vô độ, vạn dân nghèo cùng, gia nghiệp tiêu tan!!!
Đọc lại đoạn kinh này thấy lời tiên tri của Phật chính xác quá. Tiếc rằng vẫn có nhiều người không chịu quay đầu, bỏ ác làm thiện. Kết quả : “ Lại cùng lắm người mở cửa địa ngục dẫn vào ba đường ác” Không biết đến bao giờ mới thoát ra được!!!
ĐẠO PHẬT HIỆN ĐẠI HÓA!
Các hình trên của bác sĩ Phạm Doãn chụp trong chuyến đi thăm Ấn Độ )
Thế nhưng ngày nay, những người tự xưng là đệ tử Phật lại làm những việc trái ngược lại ( có lẽ để cho thích hợp với thời đại ). Ngày xưa ngôi chùa đầu tiên được dựng lên ( chùa Kỳ Viên ) là để cho Phật làm nơi giảng dạy và chư Tăng có chổ cư trú, tu học. Phật dựng chùa Kỳ Viên không phải để người ta vào đó lạy Ngài. Ngày nay chùa dựng lên khắp nơi, nguy nga, to lớn nhưng bước chân vào chùa chỉ thấy qúy thầy nói “ Lạy Phật chưa? Chưa lạy thì vào lạy Phật mau lên”
Hôm rồi lại thấy có đám cưới trong tu viện Thường Chiếu nữa chứ… Ừ, thì thôi cũng được đi, làm cho giống các tôn giáo bạn để lôi kéo tín đồ! Thế nhưng hình ảnh cô dâu chú rể ôm hôn nhau nồng nàn dưới gác chuông chùa chắc chắn không thích hợp với đời sống của người xuất gia. Càng không tốt, không thích hợp cho những tăng sĩ trẻ đang thực tập sống đời ly dục.
Nơi đây không trách cô dâu, chú rể, họ không biết nên không có lỗi. Đáng nói là những vị tăng danh tiếng của tu viện Thường Chiếu, không hiểu họ nghĩ gì về đạo Phật mà lại để những hình ảnh như thế diễn ra. Phải chăng họ muốn hiện đại hóa đạo Phật?!
Đạo Phật sẽ đi về đâu ? Có lẽ chúng ta sẽ có câu trả lời nếu chúng ta bình tâm xem xét những diễn biến đã và đang xảy ra cho đạo Phật!
















thật không thể chấp nhận được. Một người không hiểu biết gì cũng biết rằng cần giữ thái độ trang nghiêm, không khí yên bình nơi cửa Phật. Vậy mà đây là 1 diễn viên điện ảnh. Bệnh ngôi sao và tâm lý thích chơi trội làm người ta mất đi nhân tính cơ bản nhất
.